Chương 2: Lần đầu gặp mặt
"Đứng lại, bọn tiểu nhân kia, cho ta đánh, roi này không có mắt đâu nha, dám chiếm lĩnh địa bàn của ta? !" Dịch Nam Phong mười một tuổi, trong tay cầm một cây roi vung lên, roi này là để ba cậu đánh cậu , cậu vụng trộm lấy ra rồi chuồn ra cửa sau để đi chơi.
Ba tuổi, Giản Lân Nhi lần đầu tiên đến nhà của ông nội, đứng ở trước cổng nhà mình, cô bé thấy cuộc hỗn chiến của hơn 10 đứa nhóc.Sau đó cô bé thấy một cậu nhóc môi hồng răng trắng đứng ở trung tâm, nhưng âm thanh quát tháo trong miệng cậu ta lại rất hung ác. Roi da huy động, vút lên người một tiểu tử mập mạp, sau đó xoay người đi vào cửa sau. Vừa xoay người, cậu nhóc vừa nói: "Kêu lão đại, không, kêu ông nội, ngươi kêu ta là ông nội ta sẽ tha cho ngươi. . ."
Tiểu Lân nhi thực hâm mộ roi da của cậu bé ấy, không phải vì cậu bé bộ dạng xinh đẹp, cũng không phải bởi vì cậu buộc người ta gọi mình là ông nội, mà xung quanh cậu có rất nhiều bạn bè.
Mẹ của Giản Lân Nhi đã chết, nhưng mọi người đều lừa cô bé, nói mẹ cô bé đã ra nước ngoài. Tiểu Lân nhi hừ một tiếng, mẹ đã chết mà bọn họ dám lừa mình, tưởng mình còn nhỏ nên không biết gì ư?
Giản Lân Nhi là một cô bé rất lì, Giản gia lão gia xuất thân quý tộc. Lúc còn trẻ, bởi vì có con mắt nhìn trước mọi việc. Khi quốc gia đang trên con đường tiến hành cải tổ, đề nghị mọi người đưa các xí nghiệp vào nhà nước. Giản Chính là người đầu tiên đem xí nghiệp của gia tộc quyên góp cho quốc gia.
Tầm nhìn của Giản Chính thật tốt, mắt thấy chiều hướng của sự phát triển, xí nghiệp theo chế độ công hữu là chuyện đã được định sẵn, những người khác đều vội vàng xuất ngoại, còn ông thì không. Ông hưởng ứng lời kêu gọi của quốc gia. Quốc gia thu mua các xí nghiệp, nhưng ông lại đưa không cho quốc gia, ông không lấy một xu.
Xí nghiệp của Giản gia có quy mô lớn, là do chính các bậc cha chú của Giản gia tự gây dựng lên, quy mô như Trương Chi Động thời kì "Hồ Bắc tân chính"*. Giản gia gia chủ là du học sinh, ông đã học các phương thức kinh doanh của người phương Tây, mặc dù đang trong thời kì chiến tranh, xí nghiệp hoàn toàn được toàn vẹn, thậm chí không bị thu nhỏ lại, ngược lại ngày càng lớn mạnh hơn .
*Trương Chi Động, sinh ngày 4 tháng 9 năm 1837 – mất ngày 5 tháng 10 năm 1909, là một viên quan lại và chính trị gia nổi tiếng Trung Quốc trong vào cuối triều đại nhà Thanh và là người ủng hộ phái cải cách một cách thận trọng. Cùng với Tăng Quốc Phiên, Lý Hồng Chương và Tả Tông Đường là một trong bốn quan chức nổi danh của nhà Thanh (四大 名臣) nhà cải cách xuất sắc đại diện cho phái Dương vụ cuối nhà Thanh.
Ông trải qua các chức vụ Tuần phủ Sơn Tây, Tổng đốc Hồ Quảng, Tổng đốc Lưỡng Quảng, Tổng đốc Lưỡng Giang, Quân cơ đại thần, Thượng thư Bộ Binh, hết lòng phục vụ tận trung cho nhà Thanh.
Xuất thân là Tiến sĩ năm 1863, ông được cử tham gia Hàn lâm viện năm 1880, năm 1881 ông được bổ nhiệm làm Tuần phủ Sơn Tây. Song sự nghiệp của ông sáng chói khi ông được cử đến nhận trọng trách tại các tỉnh miền nam. Cùng với Tăng Quốc Phiên, Trương Chi Động tiếp thu khẩu hiệu "Trung học vi thể, Tây học vi dụng" tức là "tinh thần Trung Hoa, kỹ thuật phương Tây".
Khi xảy ra chiến tranh với Nhật về Đài Loan năm 1894, Trương Chi Động, nhận thấy tầm quan trọng chiến lược của Đài Loan cũng như tham vọng của Nhật, do đó gởi thư cho Lý Hồng Chương vào tháng 12 năm 1894, nhấn mạnh việc phải giữ Đài Loan bằng mọi giá. Ông đề nghị thuyết phục Anh và Nga can thiệp nếu quân Nhật đánh Đài Loan lần nữa.
Khi đến Quảng Đông nhậm chức Tổng đốc Lưỡng Quảng (1884-1889), Trương Chi Động bắt tay vào phát triển thực nghiệp thành lập ra Cục dệt vải và Xưởng luyện thép Quảng Đông.
Lúc được thuyên chuyển đến Hồ Bắc, Trương Chi Động cho di dời toàn bộ thiết bị của xưởng súng pháo Quảng Đông và cho xây dựng thành xưởng súng pháo Hán Dương.
Tại Hồ Bắc, trong thời gian 3 lần nhậm chức Tổng đốc Hồ Quảng (1889-1894, 1896-1902, 1904-1906), trong hơn 10 năm làm tổng đốc, ông đã thành lập Xưởng dệt tứ cục Hồ Bắc bao gồm dệt vải, kéo sợi, ươm tơ, chế biến gai. Một số nhà máy công nghiệp khác được thành lập là Mỏ sắt Đại dã được đưa vào khai thác. Ông còn lập kế hoạch xây dựng đường sắt Lô Hán (sau đổi tên là Kinh Hán, xây dựng từ năm 1896, hoàn thành năm 1905) nối liền hai miền nam bắc.
Truyền qua hai đời, khi đến tay Giản Chính. Lúc ấy Giản Chính mới từ Mỹ trở về, biết đến chính sách kiến quốc của quốc gia, nói dân chủ cũng dân chủ, nói đẫm máu có đẫm máu. Kết quả là, sau khi suy nghĩ thật kỹ, ông trực tiếp gửi cho Chu tổng một bức thư.
Tình hình lúc ấy hỗn loạn, một bức thư đến tay một vị lãnh đạo là rất khó. Khi Chu tổng nhận được tin tức, ông ta quá đỗi vui mừng, tự mình tiếp kiến Giản Chính. Hai người nói chuyện rất lâu trong một căn phòng kín, sau khi rời khỏi nơi đó, Trung Nam Hải tự mình thiết yến chiêu đãi Giản Chính. Từ đó, xí nghiệp của Giản gia liền thuộc sở hữu của Nhà nước .
Người ta là một " Khai quốc công thần" đi tiên phong, với việc quyên góp một gia sản khổng lồ như vậy, thật đúng là quá tốt. Mà lúc ấy, quốc gia đang thiếu nhân tài, mà Giản Chính lại là một người đi du học về. muốn phong dộ có phong độ, muốn tri thức có tri thức, muốn tiền tài có tiền tài. Ông có tầm nhìn rộng, cách nói chuyện không kiêu ngạo, không siểm nịnh. Sau khi trở về, Lý tổng liền soạn một văn bản, mở một hội nghị nhỏ. Thấy bối cảnh và tài sản khổng lồ của Giản gia. Nhà nước đặt biệt quan tâm đến ông, lúc ấy ông tuy trẻ tuổi, nhưng trong khi thảo luận ở trong cuộc họp, đã thống nhất cử Giản Chính lên làm Phó chủ tịch của Hiệp thương Chính trị.
Vì thế vào thời điểm khai mạc hội nghị, đầu tiên ai ai cũng khen ngợi Giản Chính là một công dân luôn hướng về Đảng , sau đó tuyên bố ông làm Phó chủ tịch của Hiệp thương chính trị
Đây đúng là cơ hội tốt của Giản Chính, tuổi còn trẻ mà đã làm Phó chủ tịch Hiệp thương chính trị, chuyên quản kinh tế nơi này. Đường lớn rộng mở, làm đến mười năm. Tuy lúc này ông đã lui về sau, nhưng uy danh của ông, ai ai cũng phải kính trọng và nể phục.
Giản Chính có ba con trai, không có con gái. Ba của Giản Lân Nhi là Lão Yêu, là con út của Giản chính. Khi Giản chính còn làm Phó chủ tịch, Giản Chính đem đứa hai đứa con đầu ném vào bộ đội, cho các con tôi luyện chính mình.
Mà ba của Lân nhi, không như hai anh trai đi bộ đội, ông đi học kinh tế , nhằm muốn theo nghiệp cha. Dưới sự ảnh hưởng của Giản Chính, sự nghiệp của ông càng ngày càng tăng cao.
Ông cưới vợ là một tiểu thư gia môn danh giá, tình cảm hai vợ chồng rất mặn nồng. Giản Chính đã có năm cháu trai rồi , ông rất buồn. Thấy người ta có cháu gái, ông nhìn mà thèm thuồng. Cuối cùng, vợ chồng Lão Yêu cũng sinh cho ông một cô cháu gái, điều này làm Giản Chính thật cao hứng, lập tức đặt tên là Lân nhi, Kỳ Lân sống mái chi phân (Kỳ: loài thú linh thời xưa, rất hiền lành, thuộc loài nai, ngày nay đã tuyệt chủng. Kỳ là con đực, Lân là con cái, nên gọi chung là Kỳ lân)
Mà mẹ của Lân nhi lại mặc một căn bệnh hiếm gặp. Đã trị liệu nhiều năm rồi nhưng vẫn không có hiệu quả ai, cuối cùng cũng qua đời , lưu lại hai cha con Giản Lân Nhi. Giản Chính thấy cháu gái đáng thương mất mẹ sớm, liền đem cháu về nuôi. Hôm nay là ngày đầu tiên Lân nhi đến nhà của ông nội, cũng là lần đầu tiên cô bé thấy Dịch Nam Phong. Lân nhi thấy nhiều bạn nhỏ vây xung quanh Dịch Nam Phong, rất là hâm mộ.
Lân nhi từ nhỏ lớn lên một mình, không, không phải, còn có bảo mẫu, còn có ba mẹ, tuy rằng đại đa số mẹ toàn nằm trên giường, ba thì lo làm ăn , nhưng vẫn luôn cạnh cô bé, Giản Lân Nhi chính là không có một tuổi thơ vui chơi cùng cha mẹ, bạn bè như các bạn đồng trang lứa. Đi trên đường, ngẫu nhiên thấy các bạn nắm tay nhau hoặc nắm tay cha mẹ đi, cô bé rất hâm mộ. Nhưng ước muốn mãnh liệt là thế, có bé vẫn chỉ có một mình
Bình luận